Trong kỷ nguyên y học hiện đại, nhiều công nghệ tiên tiến đã được ứng dụng nhằm hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán và quản lý hiệu quả các bệnh lý thận – tiết niệu. Các xét nghiệm như creatinin huyết thanh, mức lọc cầu thận ước tính (eGFR), cystatin C hay microalbumin niệu chủ yếu phản ánh chức năng lọc của cầu thận. Tuy nhiên, xét nghiệm soi cặn lắng nước tiểu bằng phương pháp hiển vi thủ công vẫn giữ vai trò quan trọng trong thực hành xét nghiệm lâm sàng, đặc biệt trong đánh giá tổn thương ống thận và phát hiện các bất thường bệnh lý của hệ tiết niệu.
Xét nghiệm soi cặn lắng nước tiểu là phương pháp phân tích phần cặn thu được sau khi để lắng tự nhiên hoặc ly tâm mẫu nước tiểu, nhằm phát hiện các thành phần như tế bào, trụ niệu, tinh thể, vi khuẩn và các cấu trúc bất thường khác. Thông qua đó, xét nghiệm cung cấp những thông tin quan trọng giúp đánh giá tình trạng tổn thương (nếu có) của hệ tiết niệu, đặc biệt là tổn thương tại ống thận.
Đây là một xét nghiệm đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp, sử dụng mẫu nước tiểu thường quy, dễ thu thập, không đòi hỏi kỹ thuật xâm lấn. Nhờ những ưu điểm này, soi cặn lắng nước tiểu vẫn được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng, đóng vai trò quan trọng trong định hướng chẩn đoán và theo dõi nhiều bệnh lý thận – tiết niệu.
Chỉ định xét nghiệm khi nào:
Xét nghiệm soi cặn lắng nước tiểu được chỉ định trong các trường hợp:
- Nghi ngờ nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc bệnh lý thận (viêm cầu thận, hội chứng thận hư, suy thận,..).
- Đánh giá và theo dõi suy thận cấp/mạn, đặc biệt để phân biệt nguyên nhân tổn thương (trước thận, tại thận).

Hình 1. Mẫu nước tiểu
Các thành phần hữu hình trong nước tiểu:
Ở trạng thái sinh lý bình thường, kết quả soi cặn lắng nước tiểu có thể gặp:
- Hồng cầu: 0 – 5/vi trường.
- Bạch cầu: 0 – 5/vi trường.
- Tế bào biểu mô: một vài tế bào xuất hiện trong vi trường.
- Không gặp hình ảnh các trụ hoặc tinh thể.
Khi gặp tình trạng bệnh lý, kết quả soi cặn lắng có thể có những bất thường như sau:
Hồng cầu niệu:
Gặp trong các bệnh viêm cầu thận, lao thận và sỏi tiết niệu (sỏi đài – bể thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang), viêm bàng quang, ung thư bàng quang; có thể do các bệnh toàn thân (bệnh hệ thống tạo máu, rối loạn đông máu).
Hình thái hồng cầu còn nguyên vẹn hay đã bị biến dạng là chỉ điểm phân biệt nguyên nhân tổn thương tại cầu thận (tế bào biến dạng sau khi đi qua thành mao mạch cầu thận) hay chảy máu sau cầu thận (ống thận, niệu đạo, bào quang).
Cần loại trừ các trường hợp xuất hiện hồng cầu niệu bởi chảy máu do đặt sonde tiểu hay phụ nữ trong chu kỳ kinh nguyệt.
Bạch cầu niệu:
Gợi ý nhiễm khuẩn tiết niệu bởi vi khuẩn- thường đi cùng với kết quả nuôi cấy nước tiểu dương tính. Tuy nhiên nếu kết quả nuôi cấy âm tính, đi kèm pH nước tiểu cao có thể là dấu hiệu phản ánh lao thận.
Trường hợp người bệnh là nữ giới, kết quả soi cặn lắng xuất hiện bạch cầu niệu đi kèm với nhiều tế bào biểu mô có thể nghi ngoại nhiễm do lẫn dịch âm đạo- cần yêu cầu lấy lại mẫu nước tiểu để có kết quả soi cặn lắng trung thực.
Các tế bào:
- Tế bào biểu mô niệu đạo: tế bào to hình đa diện, nhân rõ.
- Tế bào biểu mô bàng quang: tế bào to hình vợt, nhân rõ.
- Tế bào biểu mô thận: Tế bào to trung bình, hình bầu dục, nhân tròn rõ. Thường xuất hiện trong các trường hợp hoại tử ống thận cấp với số lượng lớn.
Các trụ niệu:
- Trụ trong (trụ hyalin): cấu tạo bởi protein Tamm–Horsfall (uromodulin) do tế bào ống thận tiết ra, có thể gặp với số lượng rất ít ở người bình thường. Sự xuất hiện tăng lên của trụ trong là dấu hiệu gợi ý giảm tưới máu thận do mất nước (sốt), hoặc sau gây mê bằng ether.
- Trụ sáp: thường xuất hiện trong suy thận giai đoạn cuối với tình trạng ống thận giãn, lưu lượng máu tới thận giảm.
- Trụ mỡ: thường gặp trong hội chứng thận hư với hình ảnh các hạt mỡ hiện rõ trên thân trụ.
- Trụ hạt: do quá trình thoái hóa các tế bào và protein trong ống thận tạo thành, gợi ý tình trạng tổn thương tại ống thận, thường gặp trong hoại tử ống thận cấp.
- Trụ biểu mô: gồm nhiều tế bào biểu mô ống thận còn tương đối nguyên vẹn, sắp xếp thành khối trong lòng trụ, thường xuất hiện khi có tổn thương tại ống thận.
- Trụ hồng cầu: là dấu hiệu đặc hiệu gợi ý tổn thương tại cầu thận, thường gặp trong bệnh lý viêm cầu thận.
- Trụ bạch cầu: gợi ý tình trạng viêm tại nhu mô thận, thường gặp trong viêm thận–bể thận và viêm kẽ thận, giúp phân biệt với nhiễm trùng đường tiết niệu dưới.

Hình 2. Các trụ niệu trong nước tiểu
- Trụ tế bào biểu mô ống thận; B- Trụ hạt; C- Trụ bạch cầu; D- Trụ hồng cầu
Các loại tinh thể:
Sự hiện diện của các tinh thể trong nước tiểu là kết quả của quá trình kết tinh một số chất hòa tan. Các tinh thể này có thể hình thành trong cơ thể do bệnh lý hoặc xuất hiện khi mẫu nước tiểu để lâu ngoài môi trường, hay dưới ảnh hưởng của một số loại thuốc. Việc phát hiện một lượng nhỏ tinh thể thường không có nhiều ý nghĩa lâm sàng; tuy nhiên, khi tinh thể xuất hiện với số lượng lớn, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ hình thành sỏi thận.
Các loại tinh thể thường gặp trong nước tiểu bao gồm:
- Tinh thể oxalat canxi: Thường xuất hiện trong môi trường nước tiểu acid, có thể gặp ở người sử dụng nhiều thực phẩm giàu oxalat như đại hoàng, cải bắp, củ cải, trà, ca cao hoặc các loại hạt.
- Tinh thể acid uric: Hình thành khi nước tiểu có pH acid, thường liên quan đến tình trạng tăng acid uric máu hoặc tăng thải acid uric qua thận.
- Tinh thể phosphat amoniac – magie: Xuất hiện trong nước tiểu kiềm, thường liên quan đến nhiễm trùng đường tiết niệu.

Hình 3: Hình ảnh tinh thể trong nước tiểu
Trong thực hành lâm sàng, soi cặn lắng nước tiểu là một bước đánh giá hữu ích, góp phần định hướng tổn thương và hỗ trợ theo dõi các bệnh lý thận – tiết niệu. Xét nghiệm hiện được thực hiện thường quy tại Bệnh viện Thận Hà Nội, giúp cung cấp thêm thông tin cho bác sĩ trong quá trình thăm khám, từ đó hỗ trợ lựa chọn các hướng chẩn đoán và theo dõi phù hợp.
Tài liệu tham khảo:
- Brunzel NA. Fundamentals of Urine and Body Fluid Analysis. 5th ed. St. Louis: Elsevier; 2022.
- Kouri TT, Hofmann W, Falbo R, Oyaert M, Schubert S, Gertsen JB, et al. The EFLM European Urinalysis Guideline 2023. Clin Chem Lab Med. 2023.
- Nguyễn Đạt Anh. Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng. Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; 2013.
- National Center for Biotechnology Information. Urinalysis. StatPearls Publishing. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK557685/.
| Để được tư vấn, đặt lịch xét nghiệm, Quý khách vui lòng liên hệ HOTLINE 0967.691.270 hoặc đến trực tiếp Bệnh viện Thận Hà Nội để được hỗ trợ. |














